Giải mã Bát Tràng · Bài 1 · 8 PHÚT ĐỌC
Đất trắng, lửa rừng và “chân dung giang hồ” của gốm cổ Bát Tràng
Khám phá lịch sử thiên di 1000 năm của làng gốm Bát Tràng, triết lý biến “lỗi” thành độc bản qua dòng men rạn cổ và tinh thần dấn thân của những nghệ nhân đất Việt.
.jpg)
Tôi luôn bị ám ảnh bởi những gì không hoàn hảo.
Trong ký ức xưa cũ của những năm 1988 – 1990 nghèo khó, giữa góc sân tập thể đầy mùi khói rơm rạ quện với cám lợn ấm sực, tôi từng ấm ức ném đi khẩu súng bẹ chuối cụt ngủn, méo mó mà bố quấn vội bằng bàn tay rớm máu đầy vôi vữa. Ngày ấy, tôi ghét khẩu súng thô kệch không phát ra tiếng nổ giòn giã ấy, ghét cả sự im lặng im lìm của bố. Phải mất hàng chục năm lăn lộn giữa dòng đời chai sạn, đôi tay mình cũng rớm máu vì những toan tính mưu sinh, tôi mới thấu hiểu sự im lặng của cha. Khẩu súng méo mó kia không phải là sự vô tâm, mà là tất cả những gì tốt nhất một người thợ phụ hồ kiệt sức có thể chắt chiu cho con mình. Tôi nhận ra những vết rạn trong quá khứ không phải để vứt bỏ, mà là để chúng ta lùi lại một bước, nhìn sâu vào vết thương của người thương yêu mà bao dung, xoa dịu.
Để rồi hôm nay, đứng giữa không gian của cuộc thực địa “Giải mã Bát Tràng”, ngắm nhìn những đường chỉ mảnh như tơ chạy dọc thân gốm men rạn cổ, tôi bỗng nghe thấy tiếng cựa mình của nghìn năm lịch sử.
Từ cuộc thiên di vượt sông Hồng đến 72 gò đất sét trắng
Cậu thuyết minh viên trẻ tuổi Hà Trường Giang dắt chúng tôi đi qua các gian trưng bày cổ vật cổ kính. Giọng nói trầm ấm của Giang đưa chúng tôi ngược dòng thời gian về mùa thu năm 1010. Khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, có một cuộc thiên di âm thầm nhưng vĩ đại đã diễn ra dưới lòng sông Hồng. Các cụ tổ dòng họ từ đất Yên Mô, Bồ Bát (Ninh Bình) đã quyết định gác lại nếp nhà cũ, xếp những bài men cổ lên mạn thuyền, vượt sóng nước tìm về vùng đất mới. Họ dừng chân tại một dải đất bồi nơi ngã ba sông, lập nên “Bạch Thổ Phường” – phường đất sét trắng.
Tại vùng đất mới này, tổ tiên Bát Tràng tìm thấy 72 gò đất sét trắng tinh khôi phơi mình dưới nắng. Đó không chỉ là nguyên liệu thô để nhào nặn gốm sứ; đó là vận mệnh, là xương thịt của một ngôi làng quyết định độc canh một nghề duy nhất suốt hơn mười thế kỷ. Nhìn những thỏi đất sét mộc mạc được trưng bày, tôi chợt nhận ra linh hồn của gốm Bát Tràng thực chất mang dòng máu của kẻ dấn thân. Họa sĩ Nguyễn Mạnh Đức – người mà chúng tôi thường gọi bằng cái tên thân thương: chú Đức – trầm ngâm phân tích:
Bản chất của người Bát Tràng là tinh thần “giang hồ”. Họ dám dứt áo ra đi, dũng cảm rời bỏ quê cha đất tổ để tìm đất mới, nhạy bén nắm bắt mọi cơ hội giao thương bên dòng sông lớn.
Chính cái tinh thần phóng khoáng, không ngại thay đổi ấy đã giúp gốm Bát Tràng kiên cường đi qua ngàn năm dâu bể, biến đổi mình từ đất sét thô sơ thành những kiệt tác làm say lòng người.
Điệu múa của năm dòng men cổ và sự buông bỏ kiểm soát
Đi sâu vào kỹ nghệ cổ xưa, Giang chỉ cho chúng tôi năm dòng men cổ điển đã làm nên thương hiệu Bát Tràng qua các thời kỳ: men trắng ngà mộc mạc, men ngọc (celadon) thanh tao sâu thẳm, men nâu (da lươn) trầm mặc trĩu nặng, men vẽ hoa lam sắc sảo và dòng men rạn độc nhất vô nhị.
Men rạn chính là một tuyệt tác sinh ra từ một “lỗi kỹ thuật”. Cụ tổ làng gốm nhận ra khi nung, lớp men bên ngoài co ngót nhanh hơn phần xương đất sét bên trong, tạo ra những vết nứt toác ngẫu nhiên dọc ngang thân gốm. Nhưng thay vì vứt bỏ những sản phẩm “lỗi”, người thợ Bát Tràng xưa đã lùi lại một bước. Họ trân trọng những lằn ranh gãy đổ tự nhiên ấy, xoa vào đó nước củ nâu hay mực tím để làm nổi bật những đường chỉ rạn, biến khiếm khuyết vật lý thành một dòng men độc bản cổ kính.
Triết lý biến “lỗi” thành “độc bản” ấy đòi hỏi một sự thấu cảm sâu sắc giữa con người và tự nhiên. Trong lò nung cổ nung bằng củi hay nung than trộn bùn đen nhẻm, người thợ không bao giờ có thể kiểm soát được 100% ngọn lửa. Nghệ nhân Lê Ngọc Thạch nổi tiếng với kỹ thuật “men kết” – dòng men mà khi vào lò, các bông hoa men tự kết tinh một cách hoàn toàn ngẫu nhiên phụ thuộc vào độ đỏng đảnh của lửa, thợ giỏi đến mấy cũng không thể can thiệp. Hay dòng men huyết dụ cực kỳ nhạy cảm với nhiệt độ, chỉ cần lệch vài độ C là cả mẻ gốm biến sắc. Rồi kỹ thuật đắp nổi phù điêu (kênh bong) đòi hỏi người thợ tạo hình phải canh độ ẩm của đất khắt khe đến từng giờ.
Chú Đức nói với chúng tôi bằng một giọng trầm sâu:
Bản sắc và giá trị cốt lõi của gốm Việt nằm ở sự ngây thơ, mộc mạc, trung thực và trực giác cảm xúc tự nhiên phát ra từ bên trong người thợ, chứ không nằm ở sự chính xác cơ học vô hồn.
Khi người thợ vuốt đất trên bàn xoay, họ đang thực hiện một nghi lễ bộc lộ sự yếu đuối chân thật nhất của mình. Họ buông bỏ sự kiểm soát tuyệt đối để trò chuyện với đất và lửa. Người Nhật Bản xưa say mê gốm Việt cũng chính bởi cái trực giác mộc mạc, phóng khoáng, “chưa qua gọt giũa” ấy. Nhưng vì lịch sử Việt Nam thiếu đi một tầng lớp quý tộc xa xỉ để thúc đẩy sản xuất các sản phẩm gốm sứ tinh xảo mang tính hệ thống hóa, gốm Việt vẫn giữ nguyên được vẻ ngây thơ nguyên bản của đời sống thường nhật.
Sự tiến hóa của lò nung: lửa thử đất, đời thử người
Nhìn vào tiến trình tiến hóa của những lò nung Bát Tràng, ta thấy cả một hành trình đi qua đáy chữ U đầy gian truân.
Bắt đầu từ những chiếc lò đàn nung củi thô sơ ở nhiệt độ 1200°C, đến lò rồng, lò bầu đạt chất sứ trong vắt ở 1300°C. Rồi những năm tháng khủng hoảng sau 1986, khi nguồn củi cạn kiệt, người Bát Tràng phải đối mặt với thực tế mưu sinh trần trụi. Họ sáng chế ra chiếc lò hộp nung bằng than cám trộn bùn đất. Lò hộp nhỏ gọn, nhưng để lại những vết sẹo bỏng rát trên da thịt người thợ và một bầu không khí ngột ngạt than bụi. Cho đến những năm đầu thế kỷ 21, khi công nghệ lò ga nhập khẩu hiện đại xuất hiện, mở ra một chương mới cho kỹ nghệ nung gốm sạch và an toàn.
Mỗi một lần thay đổi cấu trúc lò nung là một lần người thợ Bát Tràng phải tự thiêu rụi những thói quen cũ để tái sinh. Đất sét trắng muốn hóa thân thành sứ phải chịu cái nóng hơn ngàn độ. Con người muốn chạm đến True Self (bản ngã chân thực) của mình cũng phải dũng cảm đi vào vùng tối của những thử thách, gột rửa chiếc mặt nạ thích nghi để tìm lại sự ngây thơ nguyên bản.
Bạn muốn cùng Lê Ánh kể câu chuyện nào?

NHÁNH NGHỆ THUẬT
Bạn đang tìm kiếm một tác phẩm mang bản sắc văn hóa Việt?
Cùng Lê Ánh phát triển một tác phẩm hoặc bộ hình ảnh có gốc thực địa, chất liệu rõ ràng và câu chuyện đủ sâu để sống trong không gian của bạn.

NHÁNH THƯƠNG HIỆU
Bạn đang sở hữu một thương hiệu văn hóa nhưng chưa biết kể câu chuyện của mình?
Cùng Lê Ánh tìm trục bản sắc, hệ thống hóa thông điệp và dựng một ngôn ngữ hình ảnh có thể đi qua website, chiến dịch và trải nghiệm khách hàng.